Tổng quan nghiên cứu huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

1. Mở đầu

Vốn là yếu tố sản xuất quan trọng và với các nước đang phát triển, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển rất lớn. Trong khi đó, ngân sách nhà nước có hạn không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư. Chính vì vậy, huy động nguồn lực tài chính từ các nguồn khác nhau để đáp ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế được quan tâm đặc biệt ở mọi quốc gia. Ở nước ta, các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư cũng xuất hiện sớm, ngay từ khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, có nhiều cách tiếp cận trong huy động nguồn lực tài chính cho phát triển. Theo cách tiếp cận khu vực kinh tế, nguồn lực tài chính được thu hút từ ba khu vực: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân (ngoài nhà nước) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Có khá nhiều các nghiên cứu về việc thu hút nguồn lực tài chính từ các khu vực kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước phần lớn tập trung vào mảng huy động nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế nước ngoài. Với kinh tế nhà nước, các nghiên cứu tập trung vào hoạt động huy động nguồn lực tài chính thông qua việc phát triển các kênh huy động như thuế, phí, viện trợ phát triển chính thức ODA. Với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các nghiên cứu tập trung vào các giải pháp thu hút nguồn lực tài chính đầu tư nước ngoài gián tiếp qua thị trường chứng khoán và thu hút vốn đầu tư trực tiếp FDI …. Trong khi đó, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân chỉ được nghiên cứu một cách rất mờ nhạt, lồng ghép trong những nghiên cứu về sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung (mà chủ yếu là sự phát triển doanh nghiệp tư nhân) hay các nghiên cứu về huy động và sử dụng nguồn lực tài chính nói chung.

Ở nước ngoài, các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính tư nhân cũng ít được chú ý. Các nghiên cứu đa phần tập trung vào vấn đề chu chuyển dòng vốn đầu tư giữa các khu vực, các ngành, hay các quốc gia hoặc tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật của huy động nguồn lực tài chính như huy động vốn lần đầu từ sàn chứng khoán (IPO), tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư mạo hiểm,… Các nghiên cứu tập trung vào huy động nguồn lực tài chính tư nhân thường chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp của một kênh huy động nào đó, chẳng hạn như huy động nguồn lực tài chính tư nhân qua hợp tác công tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Rất ít các nghiên cứu, tổng kết về lý luận và thực trạng tình hình huy động nguồn lực tài chính tư nhân nói chung.

Có thể chia các nghiên cứu đã có có liên quan tới đề tài nghiên cứu thành các nhóm:

1) nhóm các nghiên cứu chỉ tập trung vào một hoặc một vài kênh huy động nguồn lực tài chính;

2) nhóm các nghiên cứu đề cập đến huy động nguồn lực tài chính nói chung;

3) nhóm các nghiên cứu đề tập đến huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân. Để có một cái nhìn toàn cảnh, trên cơ sở đó có những nhận định cơ bản xung quanh vấn đề nghiên cứu, sự khác biệt của luận án với những công trình đã có, tác giả sẽ lần lượt đi vào khảo sát từng nhóm nghiên cứu cụ thể có liên hệ mật thiết đến vấn đề nghiên cứu.

2. Tổng quan các nghiên cứu đề cập đến huy động nguồn lực tài chính nói chung

Quán triệt chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về huy động nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế xã hội, nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các công cụ, các kênh huy động nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể sử dụng để huy động vốn cho nền kinh tế như các kênh huy động vốn qua ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu, huy động vốn ODA, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, thu hút tiền gửi qua hệ thống ngân hàng,… Khác với các nghiên cứu ở phần 1.1 tập trung vào một kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể, các nghiên cứu trong phần này lại nghiên cứu đến huy động nguồn lực tài chính nói chung từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau. Ưu điểm của cách tiếp cận này là nó cho phép có cái nhìn tổng quát về huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển xã hội. Tuy nhiên, do đề cập tổng quát nên nó không có điều kiện đi sâu vào phân tích các vấn đề, các góc độ khác nhau của từng kênh huy động, từng nguồn lực tài chính khác nhau. Đặc biệt, các nghiên cứu này không đặt nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân vào trọng tâm nghiên cứu mà nghiên cứu chung chung về huy động nguồn lực tài chính, không tập trung vào một khu vực kinh tế cụ thể nào.

Trên cơ sở phân tích chung về huy động nguồn lực tài chính, các nghiên cứu này đưa ra các giải pháp bao hàm nhiều mặt, liên quan nhiều kênh huy động, nhiều nguồn lực tài chính khác nhau. Chẳng hạn, các giải pháp được đưa ra bao gồm các nhóm chủ yếu sau:

– Tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển: kênh huy động nguồn lực tài chính của ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ và việc phát hành và sử dụng vốn phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ

– Việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, chống thất thoát và tham nhũng trong các dự án cần tránh đầu tư dàn trải là giải pháp rất quan trọng.

– Rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý và sử dụng vốn ODA, trong đó phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành trong quản lý nguồn vốn tài trợ này. Vốn ngân sách nhà nước, vốn tài trợ quốc tế và các nguồn vốn khác cho vay xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, hỗ trợ sinh viên nghèo vay vốn học tập, cho các mục tiêu chính sách xã hội khác,… chủ yếu cần được tập trung qua hệ thống ngân hàng chính sách xã hội để giải ngân cho các đối tượng theo quy định.

– Đẩy mạnh việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các công ty cổ phần niêm yết cổ phiếu và huy động vốn trên thị trường chứng khoán.

– Tiếp tục đổi mới lĩnh vực thanh toán, mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt để huy động khối lượng vốn rất lớn trong xã hội vào hệ thống ngân hàng và tiết kiệm các khoản chi khổng lồ cho các hoạt động tiền mặt, góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực trong xã hội.

– Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thông thoáng và lành mạnh cho các NHTM và tổ chức tín dụng hoạt động cho phép huy động khối lượng vốn rất lớn và nâng cao hiệu quả cho vay đầu tư.

– Tiếp tục đổi mới xây dựng và điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ. Đổi mới các hoạt động khác của Ngân hàng Nhà nước, như: điều hành thị trường mở, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, đổi mới thanh toán và mở rộng thanh toán điện tử liên ngân hàng, các hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của thị trường vốn.

Tuy nhiên, những giải pháp trên chỉ có tính định hướng chung cho các khu vực kinh tế, không thể bao quát hết được những điểm đặc thù riêng có của từng khu vực nhất là khu vực kinh tế tư nhân-một khu vực hoạt động theo cơ chế thị trường, năng động, linh hoạt và không ổn định. Từ đó, chắc chắn sẽ không thể chỉ ra đầy đủ những giải pháp và có thể không thể chỉ ra những giải pháp tối ưu nhất để huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân.

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này có thể kể ra là:

  • Quách Nhan Cương, Doãn Văn Kính, Uông Tổ Đỉnh, Kinh tế các nguồn lực tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội 1996.
  • Viện nghiên cứu tài chính, Tài chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Tài chính, Hà Nội 1996
  • Bộ Tài chính, Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Tài chính, Hà Nội 1996.
  • Đặng Văn Thanh, “Phát triển tài chính Việt Nam giai đoạn 2001-2005 và định hướng giai đoạn 2006-2010”, Số 92 -2005, Tạp chí Cộng sản.
  • Vũ Đình Bách-Ngô Đình Giao, Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững, Nxb CTQG, Hà Nội 1996.
  • Nguyễn Đình Tài, Sử dụng công cụ tài chính – tiền tệ để huy động vốn cho đầu tư phát triển, Nxb Tài chính 1997.
  • TS Trần Ngọc Thơ (chủ biên), Tài chính quốc tế – Nxb Thống kê 2000
  • Phạm Văn Năng, Trần Hoàng Ngân, TS. Sử Đình, Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam đến năm 2010, Nxb Thống kê, TP.HCM 2002
  • Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Thái Phúc, “Phân bổ vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế thị trường”, Hội thảo khoa học Trường Đại học dân lập Văn Lang, TP.HCM 1999.
  • Nguyễn Văn Lai, Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam, Hà Nội 1996.
  • Trần Kiên, Chiến lược huy động vốn và các nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Hà Nội, 1999.
  • Phạm Thị Khanh, Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb CTQG, 2004.
  • Nguyễn Thị Phương Liên, “Nâng cao khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển qua đấu thầu trái phiếu chính phủ”, Tạp chí cộng sản số 23, 2004
  • TS Nguyễn Đắc Hưng, “Huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội”, Tạp chí cộng sản số 18 (138) năm 2007.
  • Nguyễn Thị Luyến, Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường ở các nước ASEAN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996.
  • Nguyễn Minh Tú, Chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996
  • Lê Minh Bảo, “Phát hành trái phiếu Chính phủ biện pháp quan trọng để huy động vốn cho đầu tư phát triển ở nước ta”, Tạp chí Giáo dục lý luận Số 3, 2005.
  • Lý Thành Tiến, “Phát hành trái phiếu chính phủ huy động vốn cho đầu tư phát triển”, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10, 2005
  • Lý Thành Luân, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc 1996- 2050, Nxb Tài chính, Hà Nội 1999.
  • Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Chiến lược phát triển kinh tế – Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc, Nxb GTVT, Hà Nội 2004.

Như vậy, các nghiên cứu trong nhóm này không tập trung phân tích sâu được vấn đề huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân. Cụ thể, chúng không chỉ ra được những đặc trưng khác biệt của khu vực kinh tế tư nhân so với khu vực kinh tế khác, tiềm năng tài chính của khu vực tư nhân ở nước ta, cũng như những đặc thù trong huy động nguồn lực tài chính tu khu vực này. Chính vì thế, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân.

3. Tổng quan các nghiên cứu tập trung vào một hoặc một vài kênh huy động nguồn lực tài chính

Có khá nhiều nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính tập trung vào một hoặc một vài kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể nào đó như huy động nguồn lực tài chính tư nhân qua kênh thu hút tiền tiết kiệm tại ngân hàng, huy động nguồn lực tài chính qua thị trường chứng khoán, huy động nguồn lực tài chính bằng phát hành trái phiếu, huy động nguồn lực tài chính trong hợp tác công tư,… Ưu điểm của các nghiên cứu này là nhờ tập trung vào một kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể mà có thể phân tích sâu về các khía cạnh cụ thể, kỹ thuật của kênh huy động đó. Tuy nhiên, các nghiên cứu này không cho thấy tổng quan về huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân, cũng không phân tích tiềm năng, đặc điểm, những thuận lợi và khó khăn khi huy động nguồn lực tài chính tư nhân. Chúng chỉ tập trung vào một kênh huy động cụ thể, bỏ qua những kênh huy động quan trọng khác.

Có khá nhiều các nghiên cứu nước ngoài theo hướng này, trong đó có thể kể đến, chẳng hạn như tác giả Ang James (2010)[1] nghiên cứu về kinh nghiệm huy động nguồn lực tài chính qua kênh tiết kiệm ở Malaysia và mối liên hệ của nó với sự phát triển và tự do hóa tài chính, từ đó rút ra các bài học về huy động vốn. Tác giả đã sử dụng lý thuyết vòng đời để ước lượng hàm tiết kiệm trên cơ sở đưa vào các biến số thể chế của nền kinh tế Malaysia, tập trung vào vai trò của các yếu tố tài chính. Các kết quả cho thấy độ sâu tài chính, mạng lưới và mật độ ngân hàng có xu hướng thúc đẩy tiết kiệm. Tự do hóa tài chính và sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng hỗ trợ huy động tiết kiệm ở Malaysia.

Hay tác giả Erinc Yeldan (2005) tập trung đánh giá về kênh huy động nguồn lực tài chính thông qua quá trình tư nhân hóa ở Thổ Nhĩ Kỳ trong các ngành công nghiệp chủ chốt. Quá trình tư nhân hóa ở Thổ Nhĩ Kỹ bắt đầu từ giữa những năm 1980 theo đường lối “đồng thuận Washington” và cách thức chủ yếu ở Thổ Nhĩ Kỳ là giảm đầu tư nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước cần tư nhân hóa. Và bằng cách đó, nhà nước buộc các doanh nghiệp này làm ăn kém hiệu quả và phải bán rẻ cho các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài chứ không phải các nhà đầu tư trong nước. Các tài sản nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ đã rơi vào tay tư bản nước ngoài. Đây là thất bại của quá trình tư nhân hóa ở Thổ Nhĩ Kỳ. Bài học kinh nghiệm rút ra là phải thực hiện tư nhân hóa thận trọng, đánh giá đúng giá trị tài sản nhà nước và chỉ tư nhân hóa các doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ và tư nhân vận hành hiệu quả hơn.

Về kênh huy động nguồn lực tài chính qua hợp tác công tư, một nghiên cứu tổng kết của ADB được xuất bản trong cuốn sách “Mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân” (ADB, 2008). Cuốn sách cung cấp tổng quan về vai trò, thiết kế, cấu trúc và việc thực hiện mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và tư nhân với tư cách là kênh huy động nguồn lực tài chính trong phát triển cơ sở hạ tầng với nhiều ví dụ, các hình thức hợp đồng quản lý, các hợp đồng dịch vụ, nhượng quyền, thỏa thuận kinh doanh, lựa chọn cấu trúc, các nhiệm vụ chính liên quan đến thiết kế và chuẩn bị dự án hợp tác công tư,…

Cũng liên quan đến vấn đề hợp tác công tư trong đầu tư cơ sở hạ tầng, một nghiên cứu của tác giả Pangestu ở Viện nghiên cứu phát triển đô thị và vùng của Indonesia đã phân tích kinh nghiệm huy động nguồn lực tài chính tư nhân để phát triển hạ tầng đô thị ở thành phố mới Bumi Serpong Damai và rút ra các kết luận:

  • Do nguồn lực tài chính hạn chế của chính phủ, việc huy động nguồn lực tài chính tư nhân vào đầu tư hạ tầng đô thị là cần thiết.
  • Cần chú ý đến công tác chuẩn bị dự án và lên kế hoạch hợp tác để đảm bảo hợp tác thành công chứ không chỉ chú ý đến mỗi các vấn đề kỹ thuật xây dựng và bảo trì.
  • Cần phải xây dựng khung pháp lý với các chính sách khuyến khích hợp lý, đảm bảo quyền lợi cho mỗi bên tham gia dự án hợp tác công tư.
  • Có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng trong hợp tác công tư

Nghiên cứu của hai tác giả Shari Turitz và David Winder về huy động nguồn lực tài chính tư nhân cho đầu tư công ở Brazil, Ecuador và Mexico [2] thông qua các tổ chức quỹ phi chính phủ nhằm huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân cho đầu tư công. Đây là một hình thức huy động vốn khá phát triển ở khu vực Mỹ La Tinh. Các tác giả phân tích các ưu điểm, hạn chế của hình thức huy động nguồn lực tài chính qua các quĩ này. Giải pháp để tăng cường huy động vốn qua hình thức này là phải có khung pháp lý cho hoạt động của nó, phải đảm bảo được sự minh bạch thông tin trong huy động và sử dụng nguồn tài chính huy động được. Các tổ chức phải tự chứng tỏ năng lực quản lý, điều hành và giảm chi phí hoạt động của chúng để đảm bảo các nguồn vốn huy động được sử dụng hiệu quả nhất.

Về các nghiên cứu trong nước, có rất nhiều các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính theo từng kênh vào hệ thống tài chính, ngân hàng, nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính tư nhân qua phát triển doanh nghiệp tư nhân, về phát triển thị trường chứng khoán,… Chẳng hạn:

Tiến sĩ Đỗ Mạnh Hồng (Đại học Obirin, Nhật Bản), trong nghiên cứu của mình nhan đề “Phát triển doanh nghiệp tư nhân vì tương lai kinh tế Việt Nam” (Đỗ Mạnh Hồng, 2008) đề cập đến vấn đề giải phóng khu vực tư nhân khỏi cái bẫy cơ cấu kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, trong đó nhấn mạnh phải giảm hệ thống doanh nghiệp nhà nước siêu lớn, cồng kềnh như hiện nay để nâng cao hiệu quả. Tác giả đề xuất các giải pháp đưa doanh nghiệp tư nhân trở thành bộ phận xương sống của nền kinh tế nhằm khai thác nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác từ kinh tế tư nhân.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (2010), trong bài phỏng vấn nhan đề “Loại bỏ rào cản để phát triển kinh tế tư nhân” trên báo Tiền Phong ngày 12/4/2010 cho rằng kinh tế tư nhân phát triển còn chậm và thiếu những doanh nghiệp lớn, có thương hiệu, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Xét trên những doanh nghiệp tư nhân được đăng ký thì nhóm này mới tạo ra được khoảng 7% số việc làm, khoảng 11% GDP và khoảng 25% sản lượng công nghiệp. Đến nay, kinh tế tư nhân tạo ra khoảng 38 – 39% GDP, trong đó khoảng 28% là thuộc kinh tế hộ gia đình. Khoảng 3 triệu hộ phi nông nghiệp, 12 triệu hộ nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đình của chúng ta có điểm yếu là không đủ trình độ công nghệ, không gắn với hội nhập kinh tế. Với quy mô hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa xứng tầm, chưa có năng lực cạnh tranh ngang ngửa ở nước ngoài. Những doanh nghiệp tư nhân lớn ở Việt Nam hiện nay trình độ khoa học công nghệ, trình độ quản lý đang vẫn còn non kém. Giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân là phải loại bỏ các rào cản, đổi mới thể chế về kinh tế thị trường, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt số giấy phép con,…

Về kênh huy động nguồn lực tài chính qua thị trường chứng khoán, Báo cáo nghiên cứu Dự án Multrap III do Liên minh châu Âu tài trợ cho Bộ Công Thương về “Tự do hóa thị trường chứng khoán Việt Nam: Các vấn đề chủ yếu đối với các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và các công ty chứng khoán trong nước” (Multrap, 2010) tập trung vào các vấn đề phát triển thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động nguồn lực tài chính quan trọng ở nước ta. Báo cáo khuyến nghị các giải pháp xây dựng năng lực cho Ủy ban chứng khoán nhà nước và cải thiện cơ sở hạ tầng của thị trường chứng khoán, về thanh tra, giám sát, về nâng cao khả năng các công ty chứng khoán. Một số giải pháp của báo cáo như:

  • Nâng cấp hệ thống thông tin giám sát.
  • Tăng cường nhân sự chất lượng cao
  • Xây dựng bộ qui tắc ứng xử chính thức cho cán bộ công chức phù hợp với thông lệ quốc tế.
  • Nâng cao thẩm quyền kiểm tra, giám sát của Ủy ban chứng khoán
  • Tái cơ cấu các công ty chứng khoán theo hướng tăng qui mô, chất lượng, giảm số lượng

          – TS Nguyễn Thị Bích Loan (Nguyễn Thị Bích Loan (2010) “Thị trường trái phiếu – kênh huy động vốn quan trọng nhằm phát triển bền vững đô thị” Tham luận tại Hội thảo “Phát triển đô thị bền vững” tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17-18/5/2010) phân tích và đưa ra các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu như một kênh huy động nguồn lực tài chính cho phát triển đô thị bền vững. Sau khi phân tích thực trạng phát triển của thị trường trái phiếu, tác giả đưa ra giải pháp để phát triển thị trường trái phiếu phù hợp với chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2020 là:

  • Xây dựng chiến lược phát triển thị trường trái phiếu, phân định rõ vai trò của các thành viên tham gia thị trường, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương trong phát hành trái phiếu phục vụ phát triển đô thị
  • Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho thị trường trái phiếu, sửa đổi Nghị định 52/2006 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nghị định 53 về phát hành trái phiếu quốc tế, Nghị định 141/2003 về phát hành trái phiếu chính phủ,…
  • Ban hành bộ quy ước thị trường, thông lệ và cac qui tắc đạo đứng cho thị trường trái phiếu Việt Nam
  • Ban hành các qui định, cơ chế cho sự hình thành các tổ chức định mức, đánh giá trái phiếu độc lập, chuyên nghiệp và hiệu quả,

– TS Trần Thanh Tú, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội phân tích sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam như một công cụ thu hút nguồn lực tài chính (Trần Thanh Tú (2008) Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, Tạp chí Kinh tế Phát triển, Tháng 7, 2008). Tác giả chỉ ra rằng thị trường trái phiếu còn quá nhỏ bé, không có các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp, thiếu vắng các nhà tạo lập thị trường, tính thanh khoản của thị trường thấp. Tác giả đề nghị một số giải pháp bao gồm: tách giao dịch thị trường trái phiếu ra khỏi giao dịch thị trường cổ phiếu, khuyến khích hình thành các tổ chức xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp, khuyến khích các quĩ đầu tư tham gia đầu tư trái phiếu, đa dạng hóa các loại trái phiếu doanh nghiệp và đẩy mạnh sự phát triển của các nhà tạo lập thị trường.

– Ths Nguyễn Thu Hiền – Hoàng Nghĩa Ngọc (2010), phân tích tình hình huy động nguồn lực tài chính tư nhân qua hệ thống ngân hàng và chỉ rõ nguồn lực tài chính chưa huy động trong dân còn rất lớn, tồn tại dưới dạng tiền mặt, vàng và ngoại tệ. Nguyên nhân là nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều loại tiền tệ trong thanh toán, tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của nội tệ giảm sút. Bên cạnh đó là sự mất lòng tin của người dân vào các chính sách và tình trạng thiếu thông tin thị trường. Từ đó, các tác giả cho rằng dù lãi suất cao là cách để huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân vào hệ thống ngân hàng, đây chưa phải là tất cả. Vấn đề còn là sự ổn định kinh tế vĩ mô, là chính sách và điều hành tỷ giá, là quản lý thị trường vàng. Do đó, để huy động được nguồn lực tài chính tư nhân vào hệ thống ngân hàng, cần phải tiến hành nhiều giải pháp chứ không chỉ đơn giản là nâng lãi suất.

– Phạm Phan Dũng, Quỹ đầu tư phát triển địa phương – một mô hình về huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, Số 18 – Tr. 51-55, Tạp chí Cộng sản, 2004.

Nhìn chung, các nghiên cứu trong nhóm này khá chi tiết, do chỉ tập trung vào một hay một số kênh huy động nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, chúng không có độ bao quát toàn bộ các kênh huy động. Các nghiên cứu này thường quá đi sâu vào kỹ thuật huy động nhưng không chỉ ra được tiềm năng huy động và so sánh giữa tiềm năng và thực tế huy động. Các nghiên cứu này, tuy vậy, sẽ là những tài liệu tham khảo tốt cho luận án.

4. Tổng quan các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân

Bên cạnh các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính nói chung hoặc một kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể, một số nghiên cứu đã tập trung vào huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân. Các nghiên cứu này không đi quá sâu vào chỉ một vài kênh huy động vốn như các nghiên cứu ở Mục 2 – (Tổng quan các nghiên cứu đề cập đến huy động nguồn lực tài chính nói chung) mà bao quát nhiều kênh huy động vốn khác nhau. Các nghiên cứu này có thể theo các hướng:

1) Nghiên cứu sự phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân;

2) Nghiên cứu huy động nguồn lực tài chính tư nhân theo các kênh cụ thể nào đó;

3) Nghiên cứu huy động nguồn lực tài chính tư nhân cho một mục tiêu cụ thể nào đó, chẳng hạn phát triển giáo dục, y tế,…

4) Nghiên cứu tổng thể các kênh huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tài chính tư nhân cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.

Trong các nghiên cứu của hướng thứ nhất, huy động nguồn lực tài chính chỉ là một phần trong nội dung nghiên cứu. Hướng này nghiên cứu sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung, bao gồm các vấn đề thể chế, chính sách, nguồn lực, trong đó huy động nguồn lực nhiều khi chỉ được đề cập gián tiếp. Một số công trình tiêu biểu theo hướng này có thể kể như:

  • Đặng Minh Tiến (2008) chỉ ra rằng sự phát triển kinh tế tư nhân là tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay. Kinh tế tư nhân đóng góp nguồn lực tài chính quan trọng vào kinh doanh, góp phần làm tăng của cải vật chất, nâng cao sức sản xuất xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động và nhiều vấn đề xã hội.
  • Vũ Hùng Cường (2011) chỉ rõ vài trò của khu vực kinh tế tư nhân và đề xuất những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đưa khu vực này trở thành động lực của mô hình tăng trưởng kinh tế mới, bao gồm:
    • Thứ nhất, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận và quan điểm của Đảng về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, coi khu vực kinh tế tư nhân là động lực cơ bản trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới nhằm tạo ra được những bứt phá trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh tế hiện đại trong bối cảnh mới trong nước và quốc tế.
    • Thứ hai, liên tục rà soát, điều chỉnh cơ chế chính sách, tập trung hoàn thiện thể chế đồng bộ, giải quyết dứt điểm các “rào cản” phát triển đối với doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân.
    • Thứ ba, nâng cao hiệu quả của hệ thống cơ chế chính sách, xây dựng hệ thống cơ chế chính sách dài hạn và ngắn hạn đồng bộ, chuyên môn hóa sâu.
    • Thứ tư, cần đổi mới chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng và nhanh chóng triển khai chiến lược phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ hợp lý, làm tiền đề phát triển mạng lướidoanh nghiệp nhỏ và vừa.
    • Thứ năm, doanh nghiệp cần đổi mới, hoàn thiện chiến lược sản xuất kinh doanh. Bản thân từng doanh nghiệp cũng cần phải nỗ lực tái cấu trúc về chiến lược sản xuất kinh doanh, chất lượng nguồn nhân lực, quản trị doanh nghiệp… mang tính dài hạn, đáp ứng được các yêu cầu gia nhập vào mạng sản xuất khu vực.
    • Đức Minh, “Kinh tế tư nhân – Động lực phát triển và tăng trưởng kinh tế”, 19/04/2010, Báo Phú Thọ online
    • PGS TS Mai Tết – Nguyễn Văn Tuất – Đặng Danh Lợi, Sự vận động phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb CTQG, Hà Nội 2006.
    • Kiều Liên, “Tạo điều kiện hơn nữa cho kinh tế tư nhân phát triển, 06/04/2010”, Website www.Chính phủ.vn
    • Hướng nghiên cứu thứ hai tương tự như các nghiên cứu trong phần 1.1 nhưng ở phạm vi hẹp hơn là tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Các nghiên cứu này do vậy thiếu tính bao quát tổng thể về các hình thức huy động nguồn lực tài chính khác nhau. Một số nghiên cứu theo hướng này có thể kể như:
    • Nguyễn Thanh Hằng (2010) “Hiện trạng và các phương án huy động vốn cho các dự án giao thông vận tải theo mô hình PPP ở Việt Nam”, Báo cáo của Bộ giao thông vận tải.
    • Trần Văn Hân, Doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường chứng khoán trong mối quan hệ với tín dụng ngân hàng, Tạp chí Thương mại số 26, 2005.

Hướng tiếp cận thứ ba đi vào các hình thức huy động nguồn lực tài chính cụ thể, phục vụ các mục tiêu cụ thể như huy động nguồn lực tài chính tư nhân cho giáo dục, huy động nguồn lực tài chính tư nhân cho y tế, huy động nguồn lực tài chinh tư nhân vào thị trường trái phiếu, huy động nguồn lực tài chính tư nhân vào hệ thống ngân hàng,… Đối với cách tiếp cận này, các tác giả chủ yếu tổng kết, phân tích những hình thức, mô hình huy động nguồn lực tài chính hiện có của các doanh nghiệp, những chủ thể kinh tế cụ thể trong khu vực kinh tê tư nhân ở nước ta. Nghiên cứu các vấn đề về thị trường vốn, hình thức, tổ chức trung gian tài chính có liên quan đến huy động nguồn lực tài chính và những giải pháp vi mô để đảm bảo cho các chủ thể này huy động vốn có hiệu quả. Cách tiếp cận này cho phép nghiên cứu sâu vào từng vấn đề cụ thể nhưng nó không cho ta cái nhìn tổng quát về huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân. Có thể kể ra một số công trình sau:

  • Nguyễn Tiến Đạt-Phạm Khắc Hoàn, Huy động đóng góp của doanh nghiệp – giải pháp tăng cường nguồn tài chính cho đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay , Số 3 – tr.43-44, Tạp chí Khoa học giáo dục 2005
  • Phạm Gia Trí, Nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, Tạp chí tài chính số 5, 2006.
  • Hướng nghiên cứu thứ tư là sát với nội dung nghiên cứu của luận án nhất. Một số nghiên cứu trong nhóm này như:
  • Lê Quốc Lý, Xã hội hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, số 16 – 4/2007, Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế – xã hội.
  • Nguyễn Công Thắng, “Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí cộng sản tháng 3, 2011.
  • Đàm Văn Nhuệ, Sử dụng có hiệu quả các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp công nghiệp trong nền kinh tế thị trường, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001.
  • Hoàng Xuân Quế, Đa dạng kênh huy động vốn cho đầu tư và giải pháp về vốn cho tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 11, 2005.
  • Nguyễn Minh Phong (chủ biên),Vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế ở Hà Nội, Nxb CTQG, Hà Nội 2004
  • Võ Văn Đức (chủ biên), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội 2009.

Nhìn chung, các nghiên cứu trong nhóm này đã chỉ ra vai trò và tiềm năng nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân cũng như phân tích và đề ra được một số giải pháp huy động nguồn lực tài chính này. Tuy nhiên, do các nghiên cứu hoặc là quá chung chung, hoặc là chỉ tập trung vào một vài kênh huy động nên chưa đầy đủ, chưa mang tính tổng thể, hệ thống. Cho đến nay, tác giả chưa thấy các nghiên cứu mang tính hệ thống, tổng quát và đầy đủ về huy động nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân. Cụ thể, các nghiên cứu này chưa làm rõ được các vấn đề sau:

  • Làm rõ bản chất, đặc điểm của nguồn lực tài chính tư nhân trong đầu tư phát triển kinh tế xã hội
  • Chưa phân tích được tiềm năng của nguồn lực tài chính tư nhân mà chỉ tập trung phân tích các vấn đề với huy động nguồn lực tài chính. Khi chưa rõ tiềm năng của nguồn lực này thì khó có thể đánh giá chính xác về hiệu quả huy động, và có giải pháp phù hợp để thúc đẩy huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân
  • Phân tích thực trạng huy động nguồn lực tài chính còn chưa có tính bao quát các hình thức huy động, thường chỉ tập trung vào 1 hay 1 vài hình thức phổ biến như tín dụng ngân hàng, hoặc đầu tư tư nhân.
  • Các giải pháp đưa ra còn thiếu đồng bộ, chưa gắn với phân tích tiềm năng, đặc điểm của nguồn lực tài chính tư nhân

________

Trần Thị Tố Linh

Nguồn trích dẫn:

  1. Ang James (2010) “Saving Mobilization, Financial Development and Liberalization: The case of Malaysia” MPRA Working Paper No 21718.
  2. Shari Turitz and David Winder (2003) “Private Resources for Public Ends: Grantmakers in Brazil, Ecuador and Mexico”, in Cynthia Sanborn and Felipe Portocarreto (eds) Philanthropy and Social Change in Latin America, Harvard University Press, 2003.

Leave a Reply